VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC
(45) VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC UP 4 - YouTube
[00:00 - MC/Người dẫn chương trình]
Huynh, quý đệ muội... Để bắt đầu buổi thuyết minh giáo lý hôm nay, xin kính mời quý đạo trưởng, đạo huynh, đạo tỷ đồng đứng lên để đọc kinh thuyết pháp.
Kính thưa quý đạo trưởng, quý đạo huynh, quý đạo tỷ! Đức Chí Tôn Thượng Đế đã có lần dạy như sau: "Đạo đức là cái khuôn mẫu để cho loài người nương đó mà sửa mình, đặng mở trí hóa thông minh, sáng suốt, hoàn toàn tính cách cho đến chí thiện, chí mỹ. Người tròn đạo đức xuôi chiều, như thuyền sẵn nước, gió xuôi thuận đường. Đạo đức để xa lìa nhau mãi, thì khác gì thuyền lại không sông."
Vậy qua lời dạy trên, chúng ta thấy rằng đạo đức rất cần thiết cho con người để tiến đến chí thiện chí mỹ. Và một xã hội đạo đức nhất thiết phải có một nền văn hóa đạo đức. Vậy văn hóa đạo đức là gì? Và văn hóa đạo đức đóng góp gì để xây dựng một nền xã hội đạo đức?
Ban thuyết minh giáo lý xin trân trọng giới thiệu cùng quý đạo trưởng, đạo huynh, đạo tỷ đề tài thuyết minh giáo lý sáng nay: Văn hóa đạo đức sẽ do Đạo huynh Thiện Chí trình bày. Xin trân trọng kính mời thuyết trình viên đăng đàn.
[00:01:21 - Thuyết trình viên (Đạo huynh Thiện Chí)]
Kính thưa quý đạo trưởng, quý quý huynh tỷ và chư đạo hữu thân mến!
Chúng ta biết rằng tôn giáo đã xuất hiện ở trên thế giới trong lịch sử của loài người từ hơn 2.000 năm. Nếu chúng ta tính từ lúc mà loài người có văn tự và hình thành các tôn giáo, thì tôn giáo có thể nói rằng đã xuất hiện, lập thành ra một cái hệ thống có xuất hiện ở trên thế gian cách đây từ hơn 2.000 năm đến hơn 3.000 năm.
Thì như vậy, tôn giáo còn tồn tại đến ngày nay chứng tỏ rằng tôn giáo là một nhu cầu bức thiết cho đời sống con người. Hễ còn con người thì còn tôn giáo. Tôn giáo đã trải qua những giai đoạn lịch sử, nhiều giai đoạn lịch sử rất nhiêu khê, rất đau khổ và cũng bị vu dập rất nhiều. Khi thì hưng thịnh, khi thì suy vong. Tuy nhiên, tín ngưỡng và đức tin vẫn tồn tại trong tâm khảm của loài người để cho tôn giáo vẫn tồn tại đến ngày nay.
Tuy nhiên, chúng ta thấy qua quá trình lịch sử lâu dài như thế của loài người mà giữa loài người với nhau cũng chưa thống nhất quan điểm về tôn giáo. Thậm chí nó đã đưa đến những cuộc chiến tranh về tôn giáo, nó đã đưa đến những sự kỳ thị giữa người không tôn giáo và người có tôn giáo, cũng như những sự đố kỵ, kỳ thị giữa những người có tôn giáo lẫn nhau.
Như vậy là tại vì tôn giáo đã phát sinh ra bằng nhiều hình thức và thể hiện tín ngưỡng cũng như đức tin của mình bằng nhiều cách biểu hiện qua nhiều hình thức khác nhau. Do đó, loài người không thể thông cảm với nhau một cách hoàn toàn; nghĩa là các cộng đồng dân tộc trên thế giới và các thành phần xã hội, thành phần con người cũng chưa hoàn toàn thông cảm với nhau.
Nguyên nhân sâu xa của sự thiếu thông cảm đó để đưa tới đố kỵ, giết chóc và chiến tranh, thậm chí là gây khó khăn, chà đạp lẫn nhau là bởi vì người tôn giáo cũng như người không tôn giáo chưa tìm được một điểm chung nhất cho loài người về vấn đề tôn giáo, về vấn đề tín ngưỡng. Theo chúng tôi thiện nghĩ, điểm chung nhất đó phải đặt trên cơ sở văn hóa và nhất là cơ sở văn hóa đạo đức.
Có những lần tôi được dịp trao đổi về vấn đề tôn giáo, trao đổi ý kiến về vấn đề tôn giáo với một số vị có trách nhiệm trong chính quyền về tôn giáo. Tôi có bày tỏ suy nghĩ rằng: Nếu quý vị hiểu tôn giáo là sự xây dựng một nền văn hóa, là một công trình, là một lịch sử, là một chuỗi dài đóng góp của nhân loại để xây dựng văn hóa đạo đức, thì quý vị thấy tôn giáo rất cởi mở, tôn giáo rất tốt đẹp, tôn giáo không có gì để mà chúng ta thấy rằng nó là một hiện tượng đã làm phiền phức cho xã hội hay là gây trở ngại cho công việc cai trị của nhà nước.
Ngày nay, lần hồi tất cả các tôn giáo trên thế giới, những tôn giáo chân chính đều được công nhận. Bởi vì ít nhiều tôn giáo đã chứng minh được điều đó và ít nhiều những người không tôn giáo cũng đã công nhận điều đó.
Do đó, ngày nay Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đã được Đức Thượng Đế khai minh qua hình thức trong giai đoạn đầu tiên là Tôn giáo Cao Đài. Thì Tôn giáo Cao Đài muốn làm tròn sứ mạng của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ thì Tôn giáo Cao Đài phải là một lực lượng xây dựng văn hóa đạo đức cho toàn nhân loại. Và lần hồi, Tôn giáo Cao Đài sẽ vượt xa tính chất tôn giáo của nó để mang lấy yếu tính Đại Đạo của nó thì lúc đó tính văn hóa đạo đức của nó càng ngày càng sáng tỏ hơn và nhân loại càng ngày phải càng chấp nhận Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mà ngày nay chúng ta đang thi hành, đang thực hiện sứ mạng đó qua hình thức Tôn giáo Cao Đài.
Như vậy để trở lại đề tài Văn hóa đạo đức là gì? Chúng ta muốn đi sâu vào vấn đề văn hóa đạo đức qua chuỗi dài lịch sử của nó, trước hết chúng ta phải hiểu văn hóa là gì đã.
Có một học giả đã bày tỏ rằng: Văn hóa là tất cả những cố gắng của con người để cải thiện cái nội tâm, cải thiện gia đình, quốc gia, xã hội và hoàn cảnh; để con người có thể sống một cuộc đời khác biệt với muông thú, một cuộc đời thanh cao, đầy đủ nhân cách, nhân vị và nếu có thể là một đời sống tự do tự tại, khinh khoát và siêu nhiên, tức là một đời sống thần tiên.
Chấp nhận được và đồng cảm với lại quan điểm về tôn giáo đó, hơn một lần Đức Giáo Tông Vô Vi Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đã dạy về văn hóa như sau:
Văn hóa là sản phẩm tinh thần của xã hội dân tộc. Văn hóa có một ảnh hưởng, có ảnh hưởng một phần rất to tát trong xã hội nhân loại. Nó tế vi mà bao la, nó trầm mặc mà mạnh mẽ, nó có thể đưa một dân tộc từ chỗ đồi trụy để trở về cuộc sống thanh cao. Bản chất của văn hóa là đạo đức, hình thức của nó là ngôn từ, chương cú và giáo dục.
Thưa quý vị, chúng ta cần phải đọc lại và hiểu cho thấm thía cái định nghĩa văn hóa của Đức Giáo Tông Vô Vi Đại Đạo. Đức Giáo Tông không định nghĩa rằng văn hóa chính là Tôn giáo Cao Đài, nhưng mà chúng ta sẽ thấy khi chúng ta khai triển ý nghĩa của văn hóa qua suốt phần mà tôi sẽ trình bày với quý vị sau đây thì chúng ta sẽ thấy lời nói của Đức Giáo Tông: Cao Đài chính là văn hóa đạo đức.
Bởi vì văn hóa là sản phẩm tinh thần của xã hội dân tộc, nó có ảnh hưởng một phần rất to lớn trong xã hội nhân loại. Nó tế vi mà bao la, nó trầm mặc mà mạnh mẽ, và nó có thể đưa một dân tộc từ chỗ đồi trụy đi đến cái chỗ thanh cao.
Như vậy, cái "văn" đó là gì? Cái "văn" đó là cái vẻ, nó phát hiện lên để từ phát hiện lên từ cái tâm chân chính của con người, cái tâm con người đã đạt đạo, và nó phát lên, phát triển lên, nó thể hiện lên thành ra một cái sức mạnh và chính sức mạnh đó nó có thể chuyển hóa chính con người đó và đồng thời nó có thể chuyển hóa những con người khác, từ chỗ thấp hèn đến chỗ thanh cao.
Thì "đạo" là gì? Đạo có phải là sự chuyển hóa con người từ chỗ thấp hèn đến chỗ thanh cao hay không? Cho nên văn hóa tế vi mà bao la, trầm mặc mà mạnh mẽ; cái mạnh mẽ của nó có thể đưa tới sự biến đổi con người từ chỗ thấp hèn đến chỗ thanh cao, từ phàm thành thánh thì còn sự mạnh mẽ nào hơn văn hóa nữa! Do đó, cái bản chất của văn hóa chính là đạo đức.
Và cho ta tìm hiểu rõ hơn nữa thế nào là văn hóa đạo đức, thì Đức Giáo Tông dạy chúng ta rằng: Đừng nên hạn hẹp hai tiếng văn hóa trong khuôn khổ văn chương chữ nghĩa hay là các môn học đạo đức, mà phải quan niệm cho thật rộng, cho thật đúng nghĩa của nó. Văn hóa đạo đức là những gì tốt đẹp sâu sắc trong lĩnh vực triết học, đạo lý, thần linh học, từ nhân sinh quan cho đến vũ trụ quan, sự liên hệ giữa Trời và con người, giữa con người và Trời, sự liên hệ giữa Trời và vạn vật, sự liên hệ giữa con người và con người, và liên hệ giữa con người và vạn vật.
Như vậy văn hóa đạo đức là ta tìm thấy nó ở trong triết học, trong đạo lý, trong thần linh học. Nhưng mà nếu nói triết học, trong đạo lý, trong thần linh học là những cái môn rất là cao siêu, thì như vậy có thể tìm thấy nó mà những cái đó, những môn học đó nó cũng chỉ để chứng minh cái gì? Chứng minh mối liên hệ giữa Trời và con người, giữa con người và bạn vật, giữa con người và con người lẫn nhau, giữa con người, giữa Trời và bạn vật, giữa con người và con người, giữa người và Trời.
Như vậy là cái mối liên hệ đó là lấy con người làm trung tâm, và tất cả những môn học nó muốn gắn liền con người với trời đất, với vũ trụ và gắn liền với con người giữa con người với con người với nhau, cho nên nó mới hình thành ra tính chất đạo đức của nó. Nếu nó nói lại cái mối liên hệ cao đẹp đó giữa Trời và con người, nói cái khả năng thông linh giữa con người và Trời, nói giữa cái tình thương giữa con người và con người, thì chính đó là cái mà văn hóa đạo đức sẽ bày tỏ ra vậy.
Hơn nữa, trong khi dạy về văn hóa đạo đức, Đức Giáo Tông đã nói đến văn hóa dân tộc. Thì văn hóa dân tộc là một phần đóng góp của văn nền văn hóa đạo đức của nhân loại của chính dân tộc một nước đó. Nếu chúng ta nói trong khuôn khổ nước Việt Nam thì văn hóa dân tộc đây là văn hóa dân tộc Việt Nam.
Thì văn hóa dân tộc là gì? Văn hóa dân tộc nó sẽ nói lên được những gì cao quý, tốt đẹp của một dân tộc, từ văn học, triết học, nghệ thuật, phong tục tập quán cho đến quốc hồn, quốc túy của dân tộc đó. Thì tất cả những triết học, văn học, nghệ thuật, phong tục tập quán, quốc hồn quốc túy của mỗi dân tộc thì tất cả những cái đó là gì? Là tinh hoa của từng dân tộc. Và tinh hoa đó nó đóng góp cho nền văn hóa, và tinh hoa là xây dựng đạo đức thì văn hóa dân tộc cũng chính là văn hóa đạo đức.
Thưa quý vị! Như vậy chúng ta đã hiểu văn hóa và văn hóa đạo đức là gì.
Kế đây, chúng ta thử tìm hiểu nguồn gốc của văn hóa đạo đức từ đâu. Trước hết, chúng ta thấy nguồn gốc xa xưa của văn hóa đạo đức là phát khởi từ những cái phát minh của các bậc thánh nhân. Nếu chúng ta lùi về quá khứ khoảng hơn 4.000 năm, thì chúng ta thấy rằng chính vua Phục Hi đã vẽ ra Hà Đồ và vua Đại Vũ đã vẽ ra Lạc Thư. Mà từ Hà Đồ và Lạc Thư, thánh nhân đã vạch ra Bát Quái và Hồng Phạm Cửu Trù.
Thì làm sao mà vẽ được Hà Đồ và Lạc Thư? Tại vì chính những bậc thánh nhân này đã cảm thông được cái đạo lý của trời đất ban bố xuống cho con người mới vẽ ra được Hà Đồ và Lạc Thư. Và chính Hà Đồ và Lạc Thư là ngồn suối cho cái nền Dịch học sau này, mà chính Dịch là một nền, một công trình văn hóa đạo đức muôn thuở bất hủ của nhân loại.
Bởi thế, Dịch Hệ Từ có nói như thế này: "Ngửa trông quan tượng ở trên trời, cúi xét quan lý ở dưới đất... Xa thì lấy ở vật, do đó mới vạch ra Bát Quái."
Như vậy là Bát Quái hình thành từ cái mối liên hệ giữa con người với lại trời đất, với lại vạn vật. Trong cái mối liên hệ đó, ngài Phục Hi mặc dù lúc đó chưa có chữ nghĩa nhưng mà đã tập hợp được, đã cảm nhận được, đã trực giác được cái đạo lý của trời đất mà vẽ ra Bát Quái. Thì đây là có phải chăng là nguồn gốc ban đầu của văn hóa đạo đức? Bởi vì như Đức Giáo Tông đã nói, văn hóa đạo đức là gì, là nói lên được mối liên hệ giữa Trời và con người, giữa con người và vạn vật.
Cho nên, Bát Quái là tám quẻ, là một phát minh của vua Phục Hi cách trước Thiên Chúa giáng sinh khoảng 3.000 năm. Thở chưa có văn tự đã dùng các nét vạch liền và đứt (vạch liền là tượng trưng cho Dương, vạch đứt tượng trưng cho Âm) để mô tả cái nguyên lý sinh thành biến hóa của trời đất vạn vật, mà cũng từ đó phát hiện lên mối tương quan giữa con người với trời đất.
Còn vua Hạ Vũ, tức là Đại Vũ, phát minh ra Hồng Phạm Cửu Trù là cái phép lớn để trị nước. Phát minh này giúp cho đấng minh quân cai trị thiên hạ phải biết nắm được các nguyên tắc cơ bản về vũ trụ và nhân sinh, nghĩa là phép lãnh đạo toàn diện. Hồng Phạm Cửu Trù là phương pháp, là cẩm nang, là một chế độ cai trị đầu tiên của con người thánh đức, của bậc thánh nhân. Trong đó chúng ta thấy Hồng Phạm Cửu Trù gồm có 4 trù thuộc về vũ trụ và 5 trù thuộc về nhân sinh. 4 trù thuộc về vũ trụ là Ngũ Hành, Ngũ Kỷ, Khê Nghi và Thứ Trưng; 5 trù thuộc về nhân sinh gồm có Hoàng Cực, Tam Đức, Ngũ Sự, Bát Chính, Ngũ Phúc và Lục Cực.
Ở đây chúng ta không có thời gian để phân tích các trù này, nhưng mà Cửu Trù chính là một sự tổng hợp vũ trụ quan và nhân sinh quan và đề ra cái cách hành xử cai trị của bậc thánh nhân, của đấng minh vương như thế nào để cho phù hợp với lại cái đạo lý của trời đất và của nhân sinh. Như vậy, Hồng Phạm Cửu Trù cũng là cái nguồn gốc ban đầu của nền văn hóa đạo đức nhân loại. Hồng Phạm Cửu Trù là cái phép hội thông giữa trời đất và con người, là chỗ ráp nối vũ trụ với con người.
Nhưng đến Kinh Dịch mới là cái nguồn gốc, là căn cơ hi hữu muôn đời của nền văn hóa đạo đức Đông Phương. Đặc điểm của Dịch là một, nó là một kỳ thư dạy cho người học quán thông được cái lẽ hằng, lẽ biến của tam tài Thiên - Địa - Nhân. Thiên - Địa - Nhân là nói đến đã nói đến cả vũ trụ rồi, mà quán thông được lẽ hằng biến của nó thì nếu học được lẽ đó thì sơ sơ cũng làm một quân tử, là hiền nhân, và nếu thông suốt là bậc thánh nhân.
Cái đại công trình văn hóa này có thể nói là một kết hợp của sự cảm ứng tâm linh giữa Trời và người, giữa người và người, mà người đây phải là bậc thánh nhân. Bởi vì Phục Hi đã cảm ứng với Trời mà làm nên Bát Quái, còn Văn Vương cảm ứng với thánh ý của Phục Hi mà bổ sung ý nghĩa của quái, của hào. Rồi Khổng Tử thông đạt cái vi ý của Văn Vương mà giải lý cho Dịch thêm Thoán, thêm Tượng, thêm Hệ Từ, thêm Văn Ngôn. Tất cả những đó là những hình thức văn hóa để giải lý cho con người thông hiểu được cái Đạo Dịch. Để hợp thành ra một công trình hoàn bị để giáo dục cho từ người quân tử cho đến bậc vua quan để trị dân sự thế, lại còn ứng dụng cho những kẻ tu hành học đạo. Như vậy là Dịch áp dụng cho tất cả mọi thành phần con người, từ người thứ dân cho đến bậc quân tử, cho đến bậc thánh vương, bậc quân vương và dạy luôn cho người học đạo biết cách tu trì. Như vậy thì còn gì mà hơn Dịch được nữa, Dịch chính là một nguồn văn hóa đạo đức.
Nguồn gốc của văn hóa đạo đức còn phát xuất từ các bậc giáo chủ đắc đạo. Đồng thời với Đức Khổng Tử ở Á Đông thì chúng ta thấy có giáo chủ Pythagoras sinh ra khoảng năm 570 đến năm 500 trước Thiên Chúa giáng sinh. Thì ông dạy các môn đồ các triết thuyết về số học và dùng số để diễn tả vũ trụ quan của mình. Ông Pythagoras đã xem cái số 1 như là số đơn nhất mà nó cũng là nguồn gốc của vũ trụ.
Tại đạo viện của ông, do cái sự thông hiểu cái đạo lý giữa con người và vũ trụ như vậy, ông đã tổ chức sinh hoạt của học phái Pythagoras có tính văn hóa đạo đức rất cao. Trường học của ông, đạo viện của ông có đọc kinh, có đi dạo, có tĩnh tâm, có ăn chay, nhưng mà cũng có chơi âm nhạc, có xướng ca và cũng có thể có nhảy múa, có thể thao; ngoài ra còn đọc sách, bình văn, thảo luận và giảng dạy. Nếu chúng ta hình dung một đạo viện cách Thiên Chúa giáng sinh 500 năm mà tổ chức một đạo viện như vậy, thì hỏi bây giờ Cơ quan Phổ thông Giáo lý muốn tổ chức tới bậc đó thì mình cũng còn đang cố gắng lắm.
Cùng thời ấy... nhường mấy anh tắt tắt đèn... Cùng cái thời ấy thì Đức Lão Tử đã khai minh ra đạo Vô Vi. Vô dục, thanh tĩnh hay là cái đạo thường để con người sống có đức và vượt ra ngoài cuộc tranh chấp thấp hèn của người đời. Xin anh cho cái hình của Đức Lão Tử...
Thưa quý vị, ở đây là cái hình Đức Lão Tử cưỡi trâu, nhưng mà không biết quý vị có thấy rõ lắm không? Nó không được rõ ha, vì đây là một cái hình rất là cổ, tôi chụp ở trong một cuốn sách về các tôn giáo lớn trên thế giới. Rất tiếc là ánh sáng nó lọt vô nhiều quá thì không rõ lắm.
Thì Đức Lão Tử đã dạy về Vô vi, Vi vô vi, Sự vô sự, Vị vô vị. Và Ngài nói: "Thị dĩ thánh nhân dục bất dục, bất quý năng đắc chi vật; học bất học, phục quý năng đắc chi sở hóa..." vân vân.
Nếu như vậy thì Đức Lão Tử cũng đã truyền bá một nền văn hóa đạo đức ở cái chỗ người thánh nhân, bậc thánh nhân là muốn cái không muốn và quý cái không quý, cái bất quý năng đắc chi vật nghĩa là không có ham muốn cái gì mà khó được; và học cái bất học nghĩa là không chuộng cái tri thức, cái cầu kỳ của chữ nghĩa mà chuộng cái sự giác ngộ và sự thanh tĩnh của con người mà thôi. Ngài nói: "Ngã hữu tam bảo, trì nhi bảo chi: nhất viết từ, nhị viết kiệm, tam viết bất vi thiên hạ tiên." Nghĩa là: Ta thì có ba cái quý mà ta hằng giữ, cái thứ nhất là lòng Từ, thứ hai là Kiệm, thứ ba là Không đứng trước thiên hạ. Mà nếu có cái lòng nhân từ thì từ cố năng dũng thì mới là dũng mạnh; có kiệm thì kiệm cố năng quảng, có cần kiệm thì mới có thể rộng rãi được; bất vi thiên hạ tiên cố năng thành khí trưởng. Và không đứng trước thiên hạ mà chính là kẻ có cái khả năng lớn hơn thiên hạ. Đó là cái đạo mà Đức Lão Tử đã dạy, là Ngài đã đóng góp vào cái nền văn hóa đạo đức ở cái chỗ đắc đạo của Ngài.
Trong khi đó, ở nền văn hóa đạo đức nhân sinh còn của hơn 20 thế kỷ qua, nền văn hóa đạo đức nhân sinh của hơn 20 thế kỷ qua, nhất là ở Đông Phương, vẫn chịu ảnh hưởng đậm đà của cái đạo nhập thế của Đức Khổng, mà Ngài đã lấy cái chữ Tâm để nhất dĩ quán chi.
À cho tới... Cái đó là nó cũng bị lệ thuộc. Ở đây là cái hình chiếu chắc quý vị không thấy được rõ, nếu mà ban đêm thì thấy rõ hơn. Đây là một cái bức tranh cổ vẽ Đức Lão Tử đang ngồi ở giữa và để dạy các môn đồ ở xung quanh Ngài. Anh cho cái hình kế tiếp đi.
Đây là cái bức hình các môn đồ theo đạo Nho là hành lễ kỷ niệm của Đức Khổng Tử ở một cái sân đền kỷ niệm Đức Khổng. Quý vị có thấy rõ không? Có hơi rõ ha, những người mặc áo đỏ đó là môn sinh của Đạo Khổng và họ đang hành lễ ở ngoài sân đền trong những cái ngày thánh đản của Đức Khổng Tử. Anh cho tắt đi.
Thì như vậy Đức Khổng đã truyền bá cái đạo nhất dĩ quán chi của Ngài chính là cái đạo Nhân. Thì cái chữ Nhân này nhân loại nếu mà học hết được cái chữ Nhân thì cũng là xây dựng được một cái nền văn hóa đạo đức.
Còn cái gốc văn hóa của Phật là sự giác ngộ, là sự giác hóa để chúng sanh ngộ đạo. Sự chứng đạo của Ca Diếp khi được tâm ấn của Đức Thế Tôn tại núi Linh Thứu với nụ cười bất hủ là khởi điểm của văn hóa đạo đức Phật giáo mấy ngàn năm sau này.
Như vậy văn hóa đạo đức cũng không phải nhất thiết là ngôn từ, chương cú hay là kinh kệ, mà văn hóa đạo đức chính là sự khải ngộ, là cái tâm ấn mà các bậc giáo tổ đã truyền đạt cho các môn đồ. Cho nên Ngài Ca Diếp khi lãnh được tâm ấn của Đức Thế Tôn thì Ngài không nói lên tiếng nào mà Ngài chỉ mỉm cười. Thì cái mỉm cười đó là cái mỉm cười chứng ngộ, biết được sứ mạng của mình và biết được sự giác ngộ của mình. Đó cũng là nguồn gốc sâu thẳm nhất của văn hóa đạo đức.
Bấm cái hình kế tiếp. Cho đến đầu kỷ nguyên này... Cho cái hình kế tiếp đi.
À đây là nói về Phật giáo, anh cho cái hình kế tiếp. Anh Visual One rõ hơn.
Quý vị thấy đây là hình Đức Chúa Giê-su khi đứng trên thập tự giá. Thì đến đầu kỷ nguyên này là một khởi nguồn của văn hóa đạo đức, khởi nguồn của văn hóa đạo đức nó cũng cảm hóa loài người mãnh liệt là cái gương hy sinh của Chúa Ki-tô để chỉ cho thế gian biết đâu là sự sống, là đường đi... là một trong những bậc giáo chủ.
Sự hình thành và phát triển của các nền văn hóa đạo đức trong cuộc sống nhân sinh:
Như vậy là chúng tôi đã giới thiệu quý vị nguồn gốc của văn hóa đạo đức nó phát sinh từ các bậc thánh nhân mà lúc đó chưa lập thành ra tôn giáo. Khi đến khi lập thành ra các tôn giáo thì những bậc thánh nhân như Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni, Đức Lão Tử, Đức Khổng Tử, Chúa Ki-tô là những bậc là chính những bậc đó chính là nguồn gốc cũng là một cái nguồn gốc thứ hai của văn hóa đạo đức.
Thế còn sự hình thành và phát triển của văn hóa đạo đức trong cuộc sống nhân sinh như thế nào? Nếu từ những nguồn gốc đó mà nhân sinh mà cuộc đời mà xã hội không có sự bày tỏ, không sự thể hiện của văn hóa đạo đức thì coi như cái nguồn văn hóa đạo đức đó không có tác dụng đối với nhân sinh. Nhưng mà nguồn văn hóa đạo đức đó của các bậc thánh nhân và của các bậc giáo tổ đã in rất đậm nét vào trong tâm khảm của loài người từ khi loài người có lịch sử đến nay.
Đối với nền văn hóa đạo đức do Dịch học phát huy thì chúng ta có thể giới thiệu hai trong muôn vàn tiêu biểu cho cuộc xây dựng văn hóa đạo đức mấy ngàn năm. Chúng ta đơn cử cái lời giải Văn Ngôn của quẻ Càn của Đức Khổng Tử như sau: "Quân tử thể nhân túc dĩ trưởng nhân, gia hội túc dĩ hợp lễ, lợi vật túc dĩ hòa nghĩa, trinh cố túc dĩ cán sự. Quân tử hành thử tứ đức giả, cố viết: Càn nguyên hận lợi trinh."
Có nghĩa rằng: Cái người quân tử thể theo Nhân, nghĩa là đức Nhân đó, thì có đủ để trưởng dưỡng người vật rồi; gộp nhóm điều tốt đủ để đi đúng với Lễ; làm lợi người vật đủ để hòa đồng với Nghĩa; vững bền đủ để làm cán cân cho mọi vật. Đấng quân tử thực hành bốn đức đó cho nên nói "Càn nguyên hận lợi trinh". Như vậy từ Dịch mà Đức Khổng Tử đã giải ra cái đạo Nhân và hành xử ở đời sao cho đúng với Lễ, đúng với Nghĩa và làm cán cân được cho mọi vật. Thì cái đạo đức đó từ Dịch học, Đức Khổng Tử đã triển khai thành ra cái luân lý ở đời cho con người.
Chúng ta đơn cử một ví dụ thứ hai, Văn Ngôn của hào Lục Ngũ của quẻ Khôn nói như thế này: "Quân tử huỳnh trung thông lý, chính vị cư thể, mỹ tại kỳ trung nhi sướng ư tứ chi, phát ư sự nghiệp, mỹ chi chí dã."
Có nghĩa là: Đấng quân tử ở trung ương, tức là người đã đạt được cái địa vị trung chính của mình, thì thông suốt mọi lẽ, tuy ở ngôi vua mà giữ được cái thể. Những cái tốt đẹp ở bên trong phát suốt ra ngoài tay chân, gầy nên sự nghiệp thật là tốt đẹp tột bậc vậy. Nghĩa là khi người quân tử có được cái thực chất ở bên trong thì văn vẻ nó sẽ phát tiết ra bên ngoài. Cho nên cái câu nói rằng "Mỹ tại kỳ trung nhi sướng ư tứ chi".
Do đó, người ta thấy rằng những người nào mà tu hành mà có kết quả đó, có tu chứng rồi thì có xấu trai cũng đẹp trai ra, có xấu lão thì cũng đẹp lão ra. Bởi vì gọi là "Mỹ tại kỳ trung nhi sướng ư tứ chi" mà, cho nên không có cần phải đi viện thẩm mỹ mà chỉ lo tu là nó sẽ đẹp ra thôi.
Do đó, những cái nét văn hóa đạo đức trên đây là lời giáo huấn của thánh nhân.
Còn sau đây xin cống hiến một vài nét văn hóa đạo đức đã hiện thực trong nền văn hóa Việt Nam. Là chúng tôi muốn kể chuyện cùng quý vị nhân có một dịp chúng tôi đi Hà Nội và đi viếng ở Ninh Bình một cái đền là đền thờ của các bậc tiên vương của nhà Trần. Thì khi đến cái đền này phải đi qua một cái vùng rất đẹp, nó gọi là Hạ Long trên cạn. Cái vùng này nó có nước mênh mông, mặc dù nước cạn nhưng không phải biển nhưng nước mênh mông và có tầng những cái núi nhỏ, có những vách đá sừng sững như là ở Hạ Long. Và đi thuyền xuyên qua cái vùng núi non và trời nước bao la như vậy thì là đi đến một cái đền thờ gọi là đền Thái Vi, thờ các vị vua nhà Trần.
Thì khi mà đến ngay chính điện của cái đền thì chúng tôi thấy để bốn chữ, chúng tôi có chụp hình để chút nữa sẽ chiếu quý vị xem, gọi là Chính Long Đức Trung. Thì bốn chữ này rất là kỳ bí. Bởi vì tôi khi tôi sau khi đọc bốn chữ này rồi và đi ra cái phía sau để lễ các cái tượng của các cái vị tiên vương nhà Trần, từ Đức Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông và các vị vua khác, thì đi ra khỏi đền tôi cũng còn phải suy nghĩ hoài về cái chữ "Chính Long Đức Trung".
Thì khi về học Dịch, học quẻ Càn thì chúng tôi thấy có nhắc lại bốn cái chữ này. Nhưng mà bốn chữ này trong Văn Ngôn của quẻ Càn thì có nói như thế này: Là "Long đức nhi chính trung", chứ không phải là "Chính Long Đức Trung".
Thì chúng tôi tìm hiểu thì sở dĩ đền thờ đề là "Chính Long Đức Trung" bởi vì "Chính Long" đây là muốn ám chỉ các vị vua. Bởi vì trong cái quẻ Càn nếu quý vị có học Dịch thì biết, ở cái hào thứ năm từ dưới đếm lên, nghĩa là có sáu hào, hào nào cũng là hào Dương hết, mà mỗi hào Dương như vậy người ta ví như một con rồng. Thì tới cái con rồng thứ năm từ dưới đếm lên đó thì cái hào đó là hào Cửu Ngũ, là cái hào của bậc Chí Tôn. Mà bậc Chí Tôn đây là nói là nhà vua, là thiên tử. Mà ở cái hào đó đó, nó thuộc về cái ngôi vị Dương bởi vì nó lẻ là số 5, mà nó lại là ở giữa cái hào số 4 và số 6 cho nên nó lại là Trung. Nó vừa Chính vừa Trung mà nó đạt được cái Đức của bậc quân vương để đem cái đức của mình trang lưới cho thiên hạ, cho nên gọi là "Chính Long Đức Trung".
Như vậy người xưa, mà nhất là thời Trần, đã sử dụng được cái đạo lý của Dịch, của Đức Khổng mà để cai trị dân. Mà ngày nay nêu cao bốn cái chữ "Chính Long Đức Trung" đó là chúng ta thấy cũng là tóm tắt một cái nền văn hóa đạo đức muôn thuở của đất nước chúng ta.
Kính thưa quý vị, nền văn hóa đạo đức do Phật đạo và thiền môn phát huy cũng vừa thâm trầm, vừa thánh thoát, biểu hiện sự giác ngộ của nhân sanh nhờ trì tu Phật pháp. Có thể nói văn hóa đạo đức của Phật đạo là nền văn hóa xoay quanh cái trục của Tâm và của Thiền.
Nói tới Tâm, chúng ta vẫn nhớ hai bài thơ nổi tiếng của Thần Tú và Huệ Năng. Là khẩu khí của hai bậc đồ đệ của Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn, vô hình trung đã trở thành ra hai bài ứng đối tài tình cho đề tài về Tâm.
Bài của Thần Tú:
Thân thị Bồ đề thọ,
Tâm như minh kính đài.
Thời thời cần phất thức,
Vật sử nhạ trần ai.
Ta có thể dịch nghĩa rằng:
Thân ấy Bồ đề thọ,
Tâm như minh cảnh đài.
Giờ giờ cần phủi sạch,
Chớ để vướng trần ai.
Thì như vậy bài thơ của Thần Tú cũng là bài thơ rất hay, đã giác ngộ rằng cái thân của mình chính là cái gốc của Bồ đề, tức là cái gốc của sự sáng suốt. Nhưng mà cái tâm nó cũng như là cái kính ở trong cái khung mà cần phải thường xuyên phải lau chùi để cho nó không có dính bụi.
Nhưng mà chính Ngài Huệ Năng lại làm một cái bài thơ khác cũng về chữ Tâm này, nhưng mà với cái khẩu khí của bài thơ đó thì Đức Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn đã trao cái y bát cho Ngài Huệ Năng để Ngài trở thành ra vị tổ thứ sáu. Bài thơ đó là:
Bồ đề bản vô thọ,
Minh cảnh diệc非đài. (việc phi đài)
Bản lai vô nhất vật,
Hà xứ nhạ trần ai.
Dịch nghĩa rằng:
Bồ đề chẳng có thọ,
Minh cảnh cũng không đài.
Bản lai không một vật,
Nào chỗ vướng trần ai.
Thì như vậy là cái sự đắc đạo của Ngài Huệ Năng là cái chỗ ở cái tâm cái tâm không, biết rằng có tâm nhưng mà tâm đó cũng không phải còn là cái đóng khung trong cái đài của cái kính nữa. Và cái sự giác ngộ của Bồ đề, Bồ đề tâm nó cũng không phải là cái trụ tướng của cái thân mình. Trước sau đều không có vật nào tồn tại lại, vẫn là cái tâm không muôn thuở thì có chỗ nào vướng bụi trần ai đâu mà phải phủi sạch! Khi mà đọc được cái bài thơ này của Ngài Huệ Năng thì Ngài Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn đã âm thầm trao y bát cho Ngài Huệ Năng và chính vì vậy Ngài đã trở thành ra vị tổ thứ sáu.
Chính chữ Tâm cũng là nguồn cảm hứng bất hủ để làm nên cái bài vịnh bất hủ về chữ Tâm. Bài đó chúng ta cũng đã thường nghe đọc ở đây:
Tam điểm như tinh tượng,
Hoành câu tự nguyệt tà.
Phi mao tùng thử đắc,
Tác Phật giả do tha.
Có nghĩa rằng:
Ba điểm tựa như hình sao,
Móc câu như trăng xế.
Cầm thú bởi từ đây,
Tạo Phật đều do đó.
Nghĩa là với cái bài vịnh chữ Tâm này, người ta lấy chữ Tâm cũng là làm một đề tài cho văn hóa đạo đức, nói rằng như ba cái ngôi sao, như trăng tượng trưng cho cái tâm. Mà chính chỗ tâm này người ta sa đoạ thành cầm thú hoặc người ta được tiến hóa thành ra Phật tiên cũng chính là do nó. Đó là một cái bài thơ mặc dù nó chúng ta nghe thông thường nhưng nó trở đã trở thành ra một bài vịnh chữ Tâm bất hủ.
Kính thưa quý vị, còn một cái công trình văn hóa bất hủ khác, đó là Thập Mục Ngưu Đồ. Dù xưa hay nay, mỗi thời một tranh họa khác, nhưng trước sau Thập Mục Ngưu Đồ vẫn là một bài học về để tìm tâm, một quá trình làm chủ tâm không hề thay đổi, bởi vì đó là pháp, là đạo.
Thì chúng ta đã biết đã từng được giới thiệu Thập Mục Ngưu Đồ ở đây, là lấy cái hình tượng của một cái bé chăn trâu để tìm ra trâu và làm chủ được con trâu, và cưỡi được trâu, tức là làm chủ được tâm và đi đến cái chỗ là đạt hòa nhập vào cái tâm đó và đạt đến cái tâm không để làm cái sứ mạng của con người hòa quang hỗn tục tại thế gian. Đó là ý nghĩa của Thập Mục Ngưu Đồ, chúng tôi cũng có chụp hình Thập Mục Ngưu Đồ ở đây để chút giới thiệu cho quý vị.
Thì như vậy, trong cái chuỗi dài đóng góp để xây dựng cho nền văn hóa đạo đức, chúng ta thấy người xưa từ các bậc giáo tổ cho nên các cho đến những cái bậc ngộ đạo đã dày công đóng góp vào nền văn hóa đạo đức. Dùng chữ nghĩa, dùng kinh kệ, dùng thi văn, dùng hội họa, dùng nghe tất cả các nghệ thuật để thể hiện ra nền văn hóa đạo đức.
Còn đối với Lão Trang, từ Đạo Đức Kinh và Nam Hoa Kinh mà đạo lý và triết lý đã đào luyện ra không ít đạo gia từng đạt đến chỗ thung dung tự tại. Nếp sống, nếp nghĩ, lời nói, việc làm của các bậc này đều đủ cốt cách thanh tĩnh, giải... cốt cách thanh tĩnh giải thoát đã góp nhiều đạo vị cho nền văn hóa đạo đức của nhân loại.
Một đạo gia Việt Nam, tức là cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, đã tỏ bài quan niệm sống an nhiên vô sự của đạo gia như sau:
Lọ là thành thị, lọ lâm tuyền,
Được thú thì hơn miễn phận nhàn.
Dụng bất tài nên kém bạn,
Già vô sự ấy là tiên.
Đồ thư một quyển nhà làm của,
Phong nguyệt năm hồ khách nổi thuyền.
Dù nhẫn chê khen dù miễn thế,
Cơ màu tạo hóa mặc tự nhiên.
Như vậy là khẩu khí của một đạo gia không thích thành thị và cũng không phải là phải cầu kỳ vào chốn lâm tuyền, miễn là được thú thì hơn, được nhàn thì hơn. Già rồi thì vô sự là quý, vô sự là tiên rồi. Và "Đồ thư một quyển nhà làm của, phong nguyệt năm hồ khách nổi thuyền", thì như vậy là tài sản chỉ còn có hai quyển đồ thư thôi để cầu cho cái sự đạt đạo, đó là cái quý nhất của đạo gia.
Và ngài Nguyễn Công Trứ tuy là một nhà Nho nhưng vẫn có tâm hồn vui thú điền viên thoát vòng danh lợi:
Mãi thế rồi ta sẽ tính đây,
Điền viên thú nọ vẫn xưa nay.
Giang hồ bạn lữ câu tang ngọc,
Tùng cúc anh em cuộc tỉnh say.
Tòa đá hương nông đôi khóm trúc,
Áo xuân nghiêm tử một vai cày.
Thái bình vũ trụ càng thong thả,
Chẳng lợi danh gì lại hóa hay.
Như vậy là không cầu danh lợi.
Ở trên chúng ta đã thấy Kinh Dịch là một Cẩm nang muôn đời để giúp cho con người biết được đường lối hoàn thiện bản thân, hoàn thiện xã hội để xây dựng đời thánh đức. Nhưng cái đạo, cái lý, cái pháp đó là cái gốc lớn của văn hóa đạo đức. Nó như nguồn suối vĩnh cửu phải xuyên qua bao nhiêu thác ghềnh rừng núi, kẽ đá, bụi cỏ, khóm cây, qua bao năm tháng trang hòa cùng khắp lâu đời mới làm nấy nở hoa thơm cỏ quý nơi nơi.
Những tinh hoa đó có thể lấy Kinh Thi mà làm điển hình. Kinh Thi là một tập hợp, một tập hợp các bài thơ cổ nhất của Trung Quốc. Đó là tập hợp những dân ca và ca dao đẹp nhất, hay nhất của Trung Quốc từ thế kỷ thứ VI trước Công nguyên về trước đến thời nhà Hán. Tập hợp thơ này đã trở thành ra Kinh Thi, là một trong Ngũ Kinh.
Kinh Thi đến nay nó có hàng trăm bài thơ đầy chí vị, đầy nhịp điệu uyển chuyển, ví von, duyên dáng và hiện thực mọi tâm tình của đời sống con người, mọi giới và vừa phản ảnh nhân sinh quan đạo đức lâu đời. Chúng ta có thể lấy ví dụ nơi chương Khải Phong (Khải phong là tức là gió hòa, là gió của phương Nam).
Thì Kinh Thi nó có cái tính văn hóa ở chỗ nào? Nó tập hợp những cái bài dân ca, những câu ca dao của của cái con người sống trong cái cuộc sống bình thường, nhưng mà nó nói lên được cái đạo đức ở đời mà hay là cái nguyện vọng của họ. Mà Kinh Thi được rất ca ngợi bởi vì nó có tính văn hóa rất cao ở chỗ nó có cái cái thi vị, nó có chất thơ mà nó lại đồng thời nó lại có cái chất nhạc nữa.
Ví dụ như cái bài như thế này:
Từ phương Nam gió hòa đưa lại,
Cây gai dại gió thổi lõi gai.
Lõi gai non nớt tốt tươi,
Mẹ ta kể biết mấy mươi công trình.
Thì muốn ca ngợi cái công trình, cái công đức của người mẹ của mình thì ban đầu thì lấy gió, rồi lấy cỏ cây, lấy cây gai dại để mà để mà nói một cách bâng quơ cho nó có thi vị, rồi sau mới nói tới cái đề tài chính là kể cái công trình của người mẹ.
Hay là một bài khác, ví dụ như là:
Từ phương Nam gió hòa đưa lại,
Cây gai dại gió thổi củi gai.
Mẹ ta thanh thiện ở đời,
Mà ta chẳng được có người nào hay.
Là ca ngợi cái đạo đức của người mẹ mình, nhưng mà xét lại những người con thì chưa có người nào mà có hiếu làm tròn cái chữ hiếu hay là đạt được cái thánh thiện đạo đức như mẹ của mình.
Hoặc ở trong cái chương cái chương gọi là Thuần chi bôn bôn. Thì cái chương này nó có cái âm điệu, chữ Hán rất là hay. Xin đọc nguyên văn quý vị nghe:
Thuần chi bôn bôn, Thước chi cương cương. Nhân chi vô lương, Ngã dĩ vi huynh.
Nghĩa là:
Kìa con chim thuần, nọ con chim thước, bay đậu cùng nhau.
Người kia hư biết đến đâu, ta phải ngẫm... ngẫm sầu ta nhận làm anh.
Nghĩa là than... than rằng mình có một cái người anh là cái đạo đức không có tốt. Nhưng mà ban đầu thì không nói thẳng như vậy, mà nói rất là văn vẻ là dùng cái cái cái hình bóng của những cái con chim để nói là "Kìa con chim thuần, nọ con chim thước" vân vân, rồi mới nói tới cái người anh của mình.
Cũng như cái câu như thế này:
Thước chi cương cương, Thuần chi bôn bôn. Nhân chi vô lương, Ngã dĩ vi quân.
Kìa con chim thước, nọ con chim thuần, con xa con gần bay đậu cùng nhau.
Người kia hư biết đến đâu, ta phải cúi đầu ta nhận làm vua.
Thì như vậy là cái người dân gian họ muốn than phiền một cái vị hôn quân, hung bạo nào đó thì họ lại dùng cái bài thơ mà ban đầu thì khởi sự nghe nó rất là bình thường, nhưng mà cuối cùng đó là than rằng cái vị đó là mất đức, rất là hư hèn mà mình phải cúi đầu mình nhận làm vua, để nói lên cái nỗi lòng của cái người dân.
Có một cái bài nó cũng ví von với lại con chuột như thế này:
Kìa xem con chuột có da, người không đứng đắn sống hòa làm chi.
Kìa xem con chuột có răng, người mà ngoa ngoắt thà rằng chết hơn.
Kìa xem con chuột có thây, người mà vô lễ chết ngay cho rồi.
Như vậy là muốn mắng nhiếc cái người vô lễ nhưng mà lấy con chuột ra để mà để mà ví von, thì cái điệu của Kinh Thi nó là như vậy. Để nói lên là tại sao nó lại được xếp vô một trong Ngũ Kinh, bởi vì nó có cái chất đạo đức của nó.
Ở nước ta, thưa quý vị, Kinh Thi có ảnh hưởng rất sâu sắc vào trong tác phẩm văn học của các nho sĩ, cũng như vào một phần đời sống văn hóa của nhân dân. Trong dân gian, một số chữ rất thông dụng ở nước ta như là chữ "vu quy", chữ "gia thất", chữ "iểu điệu", chữ "chín chữ cù lao", chữ "phù du", chữ "cầm sắc", chữ "lãng bạc"... không ai mà không biết và không hiểu, mà chính những cái chữ đó là đã phát xuất từ Kinh Thi. Như vậy Kinh Thi có từ thời nhà Hán ở bên Tàu mà nó đã truyền tụng ra các nước ở Á Châu và thâm nhập vào trong ngôn ngữ nước ta đến như vậy, thì cái tính văn hóa đạo đức của nó cũng rất cao.
Thưa quý vị, đó là những gì gọi là văn hóa đạo đức đã triển khai trong cuộc sống nhân sinh. Chúng ta cũng có thể đơn cử những hình ảnh về kiến trúc, về nghệ thuật của tôn giáo và sinh hoạt tôn giáo đã góp phần vào trong nền văn hóa đạo đức.
Tới đây xin cho đóng mấy cái cửa lại để chiếu cái phim để nó giới thiệu một cái số các cái hình ảnh về nghi lễ ở trong Đạo Cao Đài.
Và các cái kiến trúc cổ của chùa, các cái tháp chuông, các cái đền nó đều là có cái tính văn hóa rất cao, nó vừa có cái tính cách nghệ thuật mà nó vừa có tính văn hóa. Thì như vậy các tháp, các đền, các miếu, các chùa, các nhà thờ, các thánh thất nó đều là thể hiện cái tính văn hóa đạo đức. Nó muốn nói lên cái mối liên quan, liên quan giữa con người với trời đất, muốn nói cái liên quan giữa con người với lại đạo lý, muốn nói cái liên quan giữa con người cái cái ước vọng muốn giác ngộ.
Và cái các cái nghệ thuật tôn giáo như các cái tượng, họa hay là điêu khắc nó cũng là những công trình văn hóa rất lớn.
Về văn chương, về văn chương, về liễn đối hay là hoành tráng nó cũng là nói lên cái tính văn hóa rất cao.
Cũng đồng như mà lúc mà tôi có dịp đi Hà Nội thì tôi viếng sau khi viếng đền Thái Vi thì tôi lên cái chỗ gọi là Bích Động. Thì ở trên đó, trước khi lên một cái động đó đó thì nó có một cái chùa. Cái chùa đó là được xây vào cái từ thời là Đinh Tiên Hoàng. Và cái chùa cổ này đó là treo một cái biển đề bốn chữ rất lạ như thế này, là Mạo Cổ Thần Thanh.
Thì tôi có chụp hình cái cái bốn cái chữ đó và tôi cũng sẽ chiếu hình lên đây cho quý vị xem. Thì tôi cũng tìm hiểu hoài "Mạo Cổ Thần Thanh" là cái gì. Nhưng mà khi mình lên trên đó thì có những cái đứa bé nó bán nhang nó đi theo đó thì nó đồng thời là những cái người thuyết minh luôn. Nó nói "Mạo Cổ Thần Thanh" nghĩa là bắt chước người xưa để có cái tinh thần thanh cao, nó nói một cách đơn giản như vậy. Nhưng mà mình nói rằng cái người xưa mà viết lên bốn cái chữ đó nó không phải là đơn giản như vậy rồi suy nghĩ vậy là tôi viết lên, nó phải có cái lý của người ta.
Thì tôi cũng không có nghiên cứu nhiều trong Phật giáo, nhưng mà có một lần cũng học Dịch... thì thấy có mấy cái câu như thế này:
Làm sĩ hi hiền... sĩ hi hiền, hiền hi thánh, thánh hi thiên.
Nghĩa là cái người sĩ là cái người sĩ tử thông thường đó thì phải bắt chước cái bậc hiền... hiền nhân. Rồi hiền nhân bắt chước thánh nhân, rồi thánh nhân bắt chước Trời. Thì như vậy "Mạo Cổ Thần Thanh" nghĩa là cái quá trình của con người phải bắt chước cái bậc hiền nhân quân tử thánh nhân để trở thành ra một một cái người siêu việt, gọi là "Mạo Cổ Thần Thanh". Theo cái người xưa và những cái bậc hiền nhân thánh nhân đó đó để mình đạt được cái cái cái cái kết quả là thần thanh. Thì cái chữ "Thần Thanh" này đó là nó chính là chỉ cái cái cái hệ quả là cái người đạt được cái Đạo do học theo cái gương của người xưa.
Thì như vậy, những cái gì mà người ta khắc, người ta ghi mấy cái chữ đơn giản thôi ở các đền, các miếu, các chùa nó cũng mang cái tính văn hóa rất cao.
Ngay trước mặt quý vị đây, ở bên phải của quý vị có cái chữ là Cao Minh Phối Thiên, thì nó cũng là một cái triết lý muôn đời, mà chính sự tu học của chúng ta cũng muốn đạt đến cái chỗ "phối thiên" này. Mà muốn "phối thiên" thì phải phải "cao minh", mà làm sao để "cao minh" đây? Thì chúng ta phải cố gắng tu hành theo lời dạy của các bậc thánh nhân, theo lời dạy của của Phật Tiên, lời dạy của ơn trên.
Hay là bốn chữ Vạn Giáo Nhất Lý bên đây trái của quý vị đây, nó cũng là tóm tắt một cái triết lý cũng mang tính văn hóa đạo đức.
Thưa quý vị, bên cạnh kiến trúc tôn giáo, bên cạnh nghệ thuật tôn giáo, bên cạnh văn chương tôn giáo, chúng ta có rất nhiều ví dụ về văn hóa đạo đức. Ví dụ khi chúng ta vái viếng đền của Đức Trần Hưng Đạo thì chúng ta sẽ đọc được một cái bài tụng công nghiệp của Đức Trần Hưng Đạo như sau:
Đức Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, một bậc vĩ nhân của nước nhà, một đấng anh hùng của thế giới. Một vị lương đống triều Đông A, chiến công đệ nhất trong việt sử. Thắng Nguyên uy danh gần xa, quân Nguyên vốn là quân Mông Cổ, đã từng diệt Tống đánh bại Nga, từ Á sang Âu đâu cũng thắng, thế mà hai lần đều thua ta. Vì Hưng Đạo Vương đã gan sắt đá, quyết chí sát Thát cứu sơn hà. Tâu vua xin chặt đầu tôi trước rồi hãy hàng giặc mà cầu hòa. Trước sau vẫn lấy Trung làm Hiếu, tư hiềm đâu bằng công nghĩa mà! Tấm gương trung nghĩa cảm tướng sĩ, trên dưới một lòng phò quốc gia. Trận Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, trận Vạn Kiếp, Bạch Đằng xông pha. Chém Toa Đô lại bắt Ô Mã, chiến công oanh liệt gươm không nhòa. Văn mô vũ liệt truyền muôn thuở, đọc hịch tường đọc bài quốc ca.
Thì những cái áng thi văn như thế ca tụng công đức của những bậc vĩ nhân thời xưa như vậy, nó cũng là những cái tấm gương đạo đức mà nó biến thành văn, thành thơ, thành phú để mà ca tụng. Đó cũng là những sự đóng góp lâu dài mà chúng ta không kể xiết cho nền văn hóa đạo đức.
Còn nếu chúng ta nói về liễn đối thì chúng ta đến mỗi cái ngôi chùa, mỗi thánh thất chúng ta thấy rất có nhiều liễn đối. Và những liễn đối này chính là tóm tắt cái triết lý, cái đạo lý của tôn giáo.
Nếu chúng ta đến Vĩnh Nguyên Tự thì chúng ta đọc được những câu này:
Phạ sự nhẫn sự bất sinh sự, tự nhiên vô sự.
Bình tâm thủ tâm mạc sinh tâm, hà đẳng phóng tâm.
Thì như vậy là nói tóm lại là cái tâm không sinh sự thì là vô sự, mà thủ tâm thì là khỏi phải phóng tâm. Cũng là một cái triết lý, là một cái cái nét đạo đức.
Cũng như cái câu cũng tại Vĩnh Nguyên Tự như thế này:
Đọc binh thư cụ chiến, đọc luật...
Đọc luật thư cụ hình, đọc Phật thư chiến hình vô cụ.
Hễ đọc binh thư thì lo cái chiến tranh, mà đọc luật thư thì lo cái chuyện hình pháp, còn đọc Phật thư thì chiến tranh với lại hình pháp mình khỏi lo gì hết.
Canh nhiêu điền ưu hạn, canh giảo điền ưu thủy, canh tâm điền thủy hạn hà ưu.
Thì lo cái chuyện mà cày ruộng hạn... cày ruộng hạn thì cũng phải lo, mà cấy cái cái ruộng nước thì cũng phải lo lụt. Mà nếu chúng ta lo canh cày cấy cái cái tâm điền của mình thì khỏi sợ lụt, khỏi sợ hạn gì hết, nghĩa là "canh tâm điền thủy hạn hà ưu". Thì cũng nói lên cái văn hóa đạo đức.
Hay là có một cái một cái câu đối vô danh như thế này:
Trên quan dưới dân, sao cho trên thuận dưới hòa, lắm kẻ yêu hơn nhiều người ghét.
Ngoài làng trong họ, quý hồ ngoại êm trong ấm, một câu nhẫn là chín câu lành.
Thế câu đối rất là đơn sơ dễ hiểu như vậy mà "lắm kẻ yêu hơn nhiều người ghét", "một câu nhẫn chín câu lành" là rất là đơn sơ. Nhưng mà mình làm sao được cho lắm kẻ yêu hơn nhiều người ghét là mình giỏi lắm rồi ạ, đạo đức mình cao lắm chứ! Mà một câu nhẫn chín câu lành thì là không biết một ngày mình nhẫn được mấy lần, nhưng mà nếu nhẫn nhẫn nhẫn nhẫn được thì là cũng đạt đạo được rồi chứ!
Có hai cái câu rất là ngộ nghĩnh ở Thảo Xá Hiền Cung ở Tây Ninh, là nơi của Đức Cao Thượng Phẩm tu ngày trước như thế này:
Thảo xá tùy nhân ngu muội bần cùng nghinh nhập thất,
Hiền cung trạch khách thông minh phú quý cấm lai môn.
Như vậy là cái chỗ này sao? Cái chỗ này là cái chỗ mà người nghèo á thì mời vô, mà phú quý thông minh phú quý á thì không cho vào! (Cười)
Như vậy là muốn vô cái chỗ Thảo Xá Hiền Cung này con người nó phải là nó phải là chất phát, phải là đơn sơ, phải là phải là thành thật... chứ không có phải là tỏ ra thông minh rồi là tỏ ra là sang giàu thì thôi ở đây chúng tôi không tiếp như người đó. Mà chúng tiếp những cái người giống như là khờ, giống như là dại, giống như vô tâm mà vô sự là những người đó là những người chúng tôi đón đón chờ. Nhưng mà nói như thế không phải là những người tỏ ra vô sự, vô tâm, vô ưu đó là những người ngu khờ đâu, mà chính là những người đó là những người đạt đạo. Cho nên nói rằng "Thảo xá tùy nhân ngu muội bần cùng nghinh nhập thất, Hiền cung trạch khách thông minh phú quý cấm lai môn". Như vậy là ăn mặc sang trọng quá đừng có mong mà vô đó. (Cười)
Hai cái câu nữa thôi là... Trời, dài quá rồi!
Thôi để gác lại đi, tại vì nó nhiều quá. Thế bây giờ là...
Nếu mà văn hóa đạo đức đó là văn hóa đạo đức đã thể hiện ở nơi các cái cảnh chùa, các cái đền miếu. Nhưng mà văn hóa đạo đức nó ở nó cũng thâm nhập trong cuộc sống vậy, giống như Kinh Thi mà để do cái chỗ nó thâm nhập trong cuộc sống của con người mà nó trở thành ra một một trong Ngũ Kinh. Thì ở Việt Nam mình, mặc dù mình chưa tập hợp được một cái Kinh Thi của Việt Nam, nhưng mà trong ca dao, trong tục ngữ, trong cái nghệ thuật cổ truyền của mình, nó cũng tập hợp được những cái gì gọi là văn hóa đạo đức của con người.
Chúng tôi lấy ví dụ như bài Gia Huấn Ca của cụ Nguyễn của cụ Nguyễn Trãi. Cụ Nguyễn Trãi đã soạn ra bài Gia Huấn Ca như thế này:
... về phép dạy con:
Ngày con đã biết chơi biết chạy,
Đừng lo chơi cầm gậy trèo cao.
Đừng cho chơi búa chơi dao,
Chơi vôi chơi lửa chơi ao có ngày.
Lao cho sạch không hay dập nước,
Ăn cho vừa đừng ước cao lương.
Cái đó là dạy cho cái người trong gia đình để dạy con mình.
Còn Ngài dạy việc dạy nội trợ như thế này:
Bề nội trợ việc trong xem xét,
Siêng năng thời trăm việc đều nên.
Chớ khoe khoang lắm thóc nhiều tiền,
Ngồi ăn mãi non mòn núi lở.
Việc nhà có kẻ ăn người ở,
Từ trong ngoài nhủ bảo trước sau.
Đồ làm ăn ngày để đâu đâu,
Ba ăn tối phải thu về cho đủ.
Trống canh một chớ đà vội ngủ,
Siêng năng thường chăm chỉ việc ta.
Thì như vậy là Ngài dạy cho cho người trong nhà về cái việc nội trợ như vậy là cũng là một cái cách là để huấn luyện về đạo đức.
Còn trong ca dao có những cái bài mẹ dạy con gái như thế này:
Con ơi mẹ bảo đây này,
Học buôn học bán cho tày người ta.
Con đừng học thói chua hoa,
Họ hàng ghét bỏ người ta chê cười.
Dù no dù đói cho tươi,
Khoan ăn bớt ngủ liệu bài lo toan.
Phòng khi đóng góp việc làng,
Đồng tiền bát gạo lo toan cho chồng.
Và cái bài chồng khuyên vợ như thế này:
Nhà anh chỉ có một gian,
Nửa thì làm bếp nửa toan làm buồng.
Anh cậy em coi sóc trăm đường,
Để cho anh buôn bán trải trương thông hành.
Còn chút mẹ già nuôi lấy cho anh,
Để anh buôn bán thông hành đường xa.
Vân vân. thì những cái bài như vậy đó là nó có mang cái tính chất văn hóa đạo đức trong dân gian.
Nhưng mà có một cái bài mà tôi muốn giới thiệu với quý vị làm một cái bài ở trong cái vở hát chèo trong cái tuồng chèo Quan Âm Thị Kính. Mà phải chi cái đoạn kết này mà tôi biết hát chèo được thì tôi hát cho quý vị nghe nó nó hay lắm! (Cười)
Tôi có hỏi một cái anh bạn người Bắc anh biết ở đây có ai mà hát chèo được không đặng tôi mời hát giùm này tôi thu cái đoạn này cho quý vị nghe, nhưng mà anh nói ở ngoài Hà Nội nhiều chứ ở đây không có. Thì không lẽ tôi hát mà hát không giống đâu.
Bây giờ tôi xin đọc cái đoạn kết của cái vở chèo Quan Âm Thị Kính nó mang tính chất đạo đức rất là sâu như thế này:
Lấy lửa thử vàng, này ai ơi lấy lửa thử vàng.
Vàng đem thử lửa lại càng thêm tươi.
Con người ta sinh ở trên đời,
Lấy chữ Tình đem thử dạ người thủy chung.
Còn lấy chữ Tu thì đem thử bền lòng,
Lòng bền nhân ái là tu ở dòng trần gian.
Dầu có oan thời mấy cũng giải oan.
Như vậy là lấy cái chữ Tình thì thử dạ dạ thủy chung, mà lấy cái chữ Tu á thì thì thử cái chữ bền lòng. Và có bền lòng như vậy đừng có sợ oan, oan mấy cũng được giải oan giống như Thị Kính. Đó là cũng là một cái một cái vở hát chèo mà nó cũng nói lên cái cái cái triết lý đạo đức.
Nói mãi thì chúng tôi muốn giới thiệu với quý vị cái đóng góp của văn hóa đạo đức qua cái hình thức nghi lễ của các tôn giáo đó, thì tôi muốn giới thiệu quý vị trong ngoạn 10 phút một đoạn là khi hành lễ tại Tòa Thánh Tây Ninh và một đoạn là khi hành lễ Hội Yến Diêu Trì Bàn Đào ở tại Cơ quan của chúng ta. Bây giờ tôi xin mời quý vị xem.
(Đoạn video clip nghi lễ tại Tòa Thánh Tây Ninh và Cơ quan Phổ thông Giáo lý)
[00:27:02 - Thuyết trình viên tiếp tục thuyết minh video]
Ở đây dàn nhạc lễ... Cái dàn nhạc lễ thì ngồi ở trên cái chỗ lầu Hiệp Thiên Đài. Thì tôi quay cái cảnh này là lúc tôi đứng ở trên chỗ lầu Hiệp Thiên Đài quay xuống...
Lúc mà chúng ta đứng ở trên Tòa Thánh mà chúng ta nghe nhạc và cái lời đọc kinh với lại cái hình thức mà thi hành cái nghi lễ như vậy đó, chúng ta thấy nó có một cái sự rung động trong tâm hồn của chúng ta. Huống chi là nếu mà người ngoài đạo mà chứng kiến như thế này á thì người ta sẽ đánh giá nó có một giá trị rất cao về nghi lễ trong tôn giáo.
Bây giờ chúng tôi xin không có thời giờ nhiều nhưng mà xin giới thiệu quý vị một đoạn cái ngày lễ Dâng yến... Đức Vô Cực Từ Tôn mà chúng ta Hội Yến Bàn Đào ở đây. Mà cái lễ Bàn Đào đó nếu mà tôi đọc cái những cái tài liệu về lễ hội á thì thấy cái lễ Dâng yến Bàn Đào nó có một cái giá trị lễ hội rất là đặc sắc mà chúng tôi có những có dịp chúng tôi sẽ trình bày sau này...
(Âm thanh đồng nhi xướng kinh/dâng lễ)
Thưa quý vị, đó là chúng tôi minh họa ra hai cái hình ảnh: Một cái hình ảnh là cái nghi lễ trong cái giờ cúng thời Ngọ ở tại Tòa Thánh Tây Ninh và một cái hình ảnh Dâng yến Bàn Đào ở tại Cơ quan Phổ thông Giáo lý. Những cái hình ảnh mà sưu tập này đó nếu chúng ta giới thiệ
Các bài Tham luận - Nghiên cứu khác