HƯU VÔ (CÓ và KHÔNG)

Gửi từ 9 giờ trước
HƯU VÔ  (CÓ và KHÔNG)
CÓ VÀ KHÔNG
"Có cái có, trong tính Tạo hóa,
Không là không, đạo cả lưu hành;
Biết đường sinh diệt, diệt sinh,
Hoàn nguyên phản bản, nhọc nhành chi con."[1]
 
CHÚ GIẢI ( Thiện Chí )
“Có cái có trong tình tạo hóa,
Không là không đạo cả lưu hành;”
 
Ý đạo trong hai câu thơ thuộc về cặp phạm trù đối đải ‘ “ CÓ – KHÔNG ‘ ( HỮU – VÔ ) trong triết học ĐôngPhương, thường được nêu lên trong giáo lý các tôn giáo, nhất là Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo và Cao Đài giáo.
 
Bình luận : Tình tạo hóa là gì ? _ Ám chỉ sự hiện hữu của vạn vật, nguyên nhân do Luật Sanh hóa Tự nhiên trong vũ trụ. Gọi là “ luật “ cũng miễn cưỡng, vỉ thật ra là hiện tượng tự nhiên, không do thế lực nào áp đặt. Lại có chữ “ tình” , thêm cái nghĩa hòa hợp.
“ Có cái có “ : chữ “có” đầu câu là chấp nhận;” là động từ ; “ cái có” là sự hiện hữu, thuộc về hiện tương thực tế.
Trọn câu có nghĩa : đương nhiên nhìn nhận sự hiện hữu của tạo vật trong trời đất.
 
“Đạo cả lưu hành”: Đạo cả là cái đạo lớn , là “ bản thể vô hình” ; lưu hành : là cuộc vận động  trong bản thể, thuộc về nguyên lý “ Vô cực – Thái cục “ ( Dich Lý ). Vậy từ trong bản thể vô hình, tức là cái “ không” phát sinh sự vận động ( tức Thái cực ) mà xuất hiện “cái có “ tức hiện tượng hữu hình. Tiến trình vận động ấy gọi là “ lưu hành” (của đạo ).
 
“Không là không” : Không là cá cái không của Đạo, mà thậtt ra là  “Có” của động năng đang vận hành. Tóm lại, không chấp cái “ CÓ “ của vạn vật là cái THẬT tuyệt đối mà  cũng không phủ nhận cái “KHÔNG” vĩnh cửu của “ Đạo cả”. Tóm  lại, với góc nhìn “ Bản thể luận” và Đạo học thì Có và Không vốn là MỘT
 
Tham khảo thánh giáo :
 
TIẾP BÀI (thánh giáo)
8. Lòng Từ Mẫu vô cùng vô tận,
Đức Từ Tôn khó nhận khôn lường,
Không lãnh vực, không biên cương,
Bao trùm vũ trụ tình thương vạn loài.
9. Ôi! Thế sự ngày nay không thế,
Lòng chúng sanh càng kể càng đau,
Tình thương biết nghĩ làm sao?
Hố thù vực hận không đào mà sâu.
10. Cùng một nhà thương nhau đùm bọc,
Cùng một đoàn chí dốc đỡ nâng,
Binh nhau vì một giống dân,
Giúp nhau vì một tình thân đạo đồng.
( Ngược lại:)
11. Ngoài gia đình thì lòng không nghĩ,
Ngoài tập đoàn, không ý giúp vùa,
Không tình dân tộc, không ưa,
Không đồng tôn giáo, không vừa tình thương.
12. Lý do đó tạo đường nghiệp quả,
Thế nhân rồi mất cả từ tâm,
Dàm danh khóa lợi giam cầm,
Làm sao nhơn loại muôn năm thái bình?
13. Hỡi con ôi! Đây tình Từ Mẫu,
Có con nào hiểu thấu lòng Già,
Gieo mầm bác ái vị tha,
Tu thân học Đạo cho hòa vạn dân. 
(Thánh Thất Bình Hòa
Ngọ thời, 15 - 8 Đinh Mùi (18-9-1967)
Lễ an vị ngôi Diêu Trì Bửu Điện)
 
@  @  @
 
Thánh giáo MLTH
 
Đạo giả sanh chi, đức giả súc,[2]
Khí Hạo Nhiên dưỡng dục khắp quần linh,
Tâm trống không mới thấu triệt lý chơn kinh,
Tánh ổn định mới tường máy hư linh là bất muội.
Mấy nhánh đơm hoa nhờ tốt cội,
Nhiều dòng khơi chảy bởi sung nguồn,
Chưa minh tâm chớ vội nấu linh đơn,
Phải kiến tánh mới mong về cực lạc.
Hỡi ai trên giấy tìm chơn pháp,
Như kẻ mò kim trong cỏ đêm,
Đạo vô vi rất dễ kiếm tìm,
Đức cao rộng khó chi mà chẳng lập.
Trừ nghiệp chướng đoạn trừ cho gấp gấp,
Thoát trần la mới gặp Đấng Tiên Ông,
Chốn cung Đâu đã nhóm sẵn một lò hồng,
Hãy thoát khỏi Truân Mông[3]mà nhập thánh.
(là quẻ Truân và quẻ Mông)
( Minh Lý Thánh Hội
Tý thời, 26 rạng 27-11 Kỷ Dậu (03-01-1970)
 
Tham khảo “ Trí tuệ nhân tạo AI”
 
Bình giảng : "Có cái có, trong tính Tạo hóa,
Không là không, đạo cả lưu hành;
Biết đường sinh diệt, diệt sinh,
Hoàn nguyên phản bản, nhọc nhành chi con."
 
Bài thánh giáo trên của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (Cao Đài) mang đậm tư tưởng triết học Đông phương, kết hợp hài hòa giữa Nho, Đạo, Thích nhằm thức tỉnh người tu hành về bản thể của vũ trụ, quy luật tiến hóa của linh hồn và con đường giải thoát khỏi luân hồi.
Dưới đây là bình giảng chi tiết về ý nghĩa sâu sắc của bốn câu thánh giáo này:
 
1. Bản thể luận về "Có" và "Không" (Hai câu đầu)
"Có cái có, trong tính Tạo hóa,
Không là không, đạo cả lưu hành;"
Hai câu thơ đầu mở ra thế giới quan và vũ trụ quan vô cùng sâu sắc, mượn triết lý của Đạo Gia và Phật Giáo để nói về hai trạng thái tương sinh của vũ trụ: Hữu (Có) và Vô (Không).
"Có cái có, trong tính Tạo hóa": Cái "Có" ở đây đại diện cho thế giới hữu hình, vạn vật, cỏ cây, con người và vũ trụ vật chất. Tất cả những gì mắt thấy, tai nghe, tay sờ được đều là sản phẩm của "Tạo hóa" (cơ duyên biến hóa từ cõi vô hình sang hữu hình). Trong giáo lý Cao Đài, đây chính là quá trình từ một điểm Linh quang ban đầu (Thái Cực) phân chia thành Lưỡng Nghi (Âm Dương), sinh ra Tứ Tượng, Bát Quái rồi biến hóa ra vạn vật.
"Không là không, đạo cả lưu hành": Ngược lại với cái "Có" là cái "Không" (Vô). Nhưng "Không" ở đây không phải là hư vô, là mất đi hay không tồn tại, mà là trạng thái Vô Vi – bản thể vô hình của Đạo. Đạo không có hình tướng, không sắc màu nhưng lại bao trùm tất cả, là năng lượng gốc để vạn vật dựa vào đó mà vận hành ("đạo cả lưu hành").
Ý nghĩa đúc kết: Người tu hành cần hiểu rằng thế giới vật chất (Có) và thế giới tâm linh (Không) là hai mặt của một thể thống nhất. Vật chất chỉ là phương tiện biểu hiện của Đạo, còn Đạo mới là gốc rễ vĩnh hằng.
 
2. Thấu triệt quy luật biến dịch của vũ trụ (Câu thứ ba)
"Biết đường sinh diệt, diệt sinh,"
"Sinh diệt, diệt sinh": Đây là quy luật tuần hoàn vô tận của vũ trụ và đời người. Hễ có sinh thì có diệt, trong cái diệt lại mầm mống cho cái sinh mới (Giống như hạt sen tàn rụng xuống bùn lại mọc lên cây sen mới). Đối với con người, đó chính là vòng luân hồi chuyển kiếp, sinh lão bệnh tử.
"Biết đường": Thầy (hoặc Đấng Thiêng Liêng) nhắc nhở người môn đệ phải "biết", tức là phải giác ngộ, nhận thức rõ ràng quy luật này. Khi đã hiểu rõ rằng cuộc đời là vô thường, thân xác này chỉ là cát bụi mượn tạm của trời đất, người tu sẽ không còn bám chấp, đau khổ, hay sợ hãi trước cái chết.
 
3. Đích đến cuối cùng của người tu hành (Câu cuối)
"Hoàn nguyên phản bản, nhọc nhành chi con."
"Hoàn nguyên phản bản": Đây là cốt lõi của giáo lý Cao Đài và Đạo gia. Hoàn nguyên là trở về cội nguồn ban đầu; phản bản là quay lại với bản tính chân thật, chơn linh thuần khiết của mình. Trong giáo lý Cao Đài, mỗi con người đều có một vi điểm linh quang (chơn linh) chiết xuất từ Khối Đại Linh Quang của Đức Chí Tôn. Sau khi xuống trần gian học hỏi và tiến hóa qua muôn vàn kiếp sống (sinh diệt diệt sinh), mục đích cuối cùng của linh hồn là tu luyện để trong sạch hóa bản thân, thoát khỏi nghiệp lực để trở về hiệp một với Đức Chí Tôn (Đấng Tạo Hóa).
"Nhọc nhành chi con": Lời an ủi, động viên đầy lòng từ bi của Đấng Thiêng Liêng. Khi người tu đã thấu rõ cội nguồn (Có - Không), chấp nhận quy luật vô thường (Sinh - Diệt) và hướng tâm về nẻo chánh (Hoàn nguyên), thì mọi thử thách, gian lao, khổ hạnh ở cõi trần gian này không còn là gánh nặng "nhọc nhằn" nữa. Việc tu hành lúc này trở nên tự nhiên, tự tại và an lạc.

Kết luận
Bài thánh giáo ngắn gọn nhưng là một bí pháp tu tâm. Lời thơ thức tỉnh người tu đừng quá đắm chìm vào cõi tạm hữu hình (cái Có) mà quên đi phần chơn linh bất diệt (cái Không). Khi tâm thế đạt đến sự tự tại, thấu hiểu lẽ sinh diệt của cuộc đời, hành giả sẽ bước đi trên con đường "Hoàn nguyên phản bản" một cách nhẹ nhàng, thanh thản, vượt qua mọi chông gai của kiếp nhân sinh.
Bài thánh giáo này nằm trong một trục tư tưởng rất rộng của Cao Đài. Bạn có muốn tìm hiểu sâu hơn về khái niệm "Hoàn nguyên phản bản" trong phương pháp nội giáo tâm truyền (tu luyện chơn thần), hay muốn trích dẫn thêm các bài thánh giáo có cùng tư tưởng Vô - Hữu này không?

Trong nền văn học đạo đức của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, đề tài "Hữu – Vô" hay "Có – Không" là một trong những cốt lõi triết học được các Đấng Thiêng Liêng (Đức Chí Tôn, Đức Lý Giáo Tông, Đức Đông Phương Chưởng Quản...) nhắc đến nhiều nhất. Đây là chìa khóa để người tu phá vỡ bức tường "chấp ngã, chấp pháp" (bám chấp vào cái có thật và cái không có thật) để đạt đến đỉnh cao của sự giải thoát.
 
Dưới đây là tổng hợp những bài Thánh giáo đặc sắc nhất nói về triết lý "Có - Không" và "Hữu - Vô" trong giáo lý Cao Đài:
 
1. Thánh giáo của Đức Chí Tôn (Ngọc Hoàng Thượng Đế)
Đức Chí Tôn thường dùng lăng kính vũ trụ quan để giải thích về sự hình thành của vạn vật từ cõi Vô đến cõi Hữu. Trong cõi siêu hình, cái "Không" chính là cội nguồn của cái "Có".
"Thầy là Hữu hình mà cũng là Vô vi. Hữu hình là vạn vật, Vô vi là Đạo chưởng quản vạn vật."
Bình giải: Thầy chỉ rõ thế giới vật chất bên ngoài chính là hình thể của Thầy (Hữu), còn cái tâm linh, cái nguyên lý vận hành vô vi ẩn khuất bên trong chính là bản thể của Thầy (Vô). Người tu nhìn vạn vật hữu hình để nhận ra cái thâm vi diệu lý vô hình.
Trong một bài Thánh giáo khác ban cho cơ quan Phổ Thông Giáo Lý, Thầy dạy:
"Cõi trần cấu có rồi lại không,
Cuộc đời tu không lại hoàn có;
Có Không, Không Có quanh co,
Có mà không biết, trăm dò cũng không."
Bình giải: Cái "Có" của thế giới vật chất (tiền tài, danh vọng, thân xác) rốt cuộc sẽ biến mất theo luật vô thường (Có rồi lại Không). Ngược lại, người tu hành dường như từ bỏ tất cả, giữ tâm trống rỗng, vô vi (Không), nhưng lại đạt được hồng ân thiêng liêng và quả vị bất diệt (Hoàn Có).
 
2. Thánh giáo của Đức Lý Đại Tiên (Lý Thái Bạch)
Đức Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ thường có những bài thi thơ rất sắc bén để thức tỉnh các thiên phong chức sắc và đạo tâm về việc đối trị với cái tâm "chấp có, chấp không".
"Hữu sắc hữu hình giai thị giả,
Vô thanh vô xú thủy vi chân.
Học Đạo phải thông lý Hữu Vô,
Có Không hai chữ ấy đồ mơ;
Có đó rồi Không trong chớp mắt,
Không mà lại Có tự bao giờ."
Bình giải:
Hữu sắc hữu hình giai thị giả: Những gì có hình sắc hiện hữu trên đời này đều là giả tạm, biến đổi không ngừng.
Vô thanh vô xú thủy vi chân: Những gì không tiếng, không mùi (cõi vô vi, chơn linh) mới là chân thật, vĩnh hằng.
Đức Lý nhắc nhở người tu nếu bị kẹt vào hai chữ Có và Không của cõi trần thì chỉ như người đi trong giấc mơ. Phải hiểu rằng từ cái "Không" mới sinh ra cái "Có" (Vũ trụ từ cõi hư vô mà thành hình), và cái "Có" rồi cũng sẽ tan rã để trở về cái "Không".
 
3. Thánh giáo của Đức Đông Phương Chưởng Quản
Trong hệ thống cơ quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo, Đức Đông Phương Chưởng Quản thường dạy về phương pháp Tu thiền (Tâm pháp) dựa trên lý Hữu Vô. Muốn đắc Đạo, hành giả phải đi từ cõi Hữu vào cõi Vô.
"Trời đất càn khôn mở lối ra,
Từ trong Không tịch hóa Ngôi Ba;
Người tu muốn đạt ngôi Vô Thượng,
Phải trả Hữu hình lại Tự Nhiên."
Bình giải: Câu này hướng dẫn bí pháp triệt để: Con người sinh ra từ cõi Vô vi (Không tịch) đi vào cõi Hữu hình (mang lấy xác thân). Nay muốn quay về ("Hoàn nguyên"), người tu phải tập buông xả, không để các trần duyên hữu hình làm ô nhiễm chơn tâm, trả mọi sự vướng bận hữu hình về lại với tự nhiên, giữ tâm rỗng rang như hư không thì tự động phần chơn linh (Vô vi) sẽ phát sáng.
 
4. Tóm lý triết học "Có - Không" trong Cao Đài
Tựu trung lại, các bài Thánh giáo về Hữu - Vô hướng người tu tiến đến 3 nhận thức cốt lõi:
Phá chấp(Không cực đoan): Không rơi vào chấp "Có" (tham lam vật chất, nghĩ mình sống mãi) nhưng cũng không rơi vào chấp "Không" (tiêu cực, chán đời, bỏ phế phận sự trần gian).
Mượn Hữu tu Vô: Dùng xác thân phàm tục (Hữu) để làm công quả, lập đức, luyện đạo nhằm phục vụ cho mục đích tiến hóa của linh hồn (Vô).
Hư tâm nhận Đạo: Tâm có trống rỗng (Không) thì cái Đạo (Có) mới rót đầy vào được. Nếu tâm đầy ắp dục vọng, lo toan, thành kiến (Có) thì Đạo hoàn toàn xa lánh (Không).
 
@  @  @
 
Tham khảo :
 
“Có thì có tự mảy may,
Không thì cả thế gian này cũng không”
 
Hai câu thơ trên là bản dịch thơ Nôm (tương truyền của học giả Phan Kế Bính hoặc Tam tổ Huyền Quang) từ bài kệ chữ Hán có tên là "Hữu Không" (有空) của Thiền sư Từ Đạo Hạnh – một bậc cao tăng nổi tiếng thời nhà Lý. [1, 2]
Nguyên văn bài kệ chữ Hán: [3]
作有 trần sa hữu,
爲空 nhất thiết không.
有空 như thủy nguyệt,
勿著 hữu không không.
(Tác hữu trần sa hữu / Vi không nhất thiết không / Hữu không như thủy nguyệt / Vật trước hữu không không) [1, 3]
Ý nghĩa triết lý sâu sắc của bài kệ
Hai câu thơ bạn nhắc đến gói gọn tư tưởng cốt lõi của Thiền tông và tánh Không trong Phật giáo: [1, 4]
 
"Có thì có tự mảy may": Nếu ta đứng ở góc độ "Chấp Có" (Hữu), tâm ta còn dính mắc vào thế giới vật chất, hình tướng thì ngay cả một hạt bụi, một mảy may nhỏ nhặt cũng thực sự tồn tại. [1, 4]
"Không thì cả thế gian này cũng không": Ngược lại, nếu nhìn bằng tuệ giác "tánh Không" (Vô), vạn vật do duyên sinh mà thành, không có tự tánh cố định. Khi đã ngộ được chân lý này thì cả vũ trụ, thế gian bao la này bản chất cũng đều là hư không, không có gì là vĩnh hằng. [1, 4, 5]
Sự dung hòa Có - Không: Hai câu tiếp theo của bài kệ ("Kìa xem bóng nguyệt lòng sông / Ai hay không có, có không là gì?") ví cái Có và Không như bóng trăng dưới nước. Nhìn thì rõ ràng là "có" trăng, nhưng chạm vào lại "không" có thực thể. [1, 2]
 
Thiền sư muốn khuyên con người không nên cực đoan, cố chấp vào bất cứ bên nào (không chấp vào cái "có" để sinh lòng tham đắm, cũng không chấp vào cái "không" để rơi vào hư vô, tiêu cực). Đi qua được cả Có và Không chính là trạng thái tự tại, tự do tự tại giữa cuộc đời. [2, 5, 6]
Bạn có thể tìm hiểu thêm về bản dịch và cuộc đời của ngài trên trang Hữu Không - Thi Viện.
Bạn đang tìm hiểu bài kệ này để nghiên cứu về văn học thời Lý - Trần, hay vì muốn chiêm nghiệm triết lý sống áp dụng cho bản thân? Nếu muốn, mình có thể chia sẻ thêm về cuộc đời đầy ly kỳ của Thiền sư Từ Đạo Hạnh nhé!
 
[1] https://giacngo.vn
[2] https://www.thivien.net
[3] https://tapchinghiencuuphathoc.vn
[4] https://www.saimonthidan.com
[5] https://www.vanchuongviet.org
[6] https://langmai.org
 


[1] Thánh giáo Đúc Vô Cực Từ Tôn, CQPTGL . . .
[2]Nguyên văn trong Đạo Đức Kinh, chương 51 là: Đạo sinh chi, đức súc chi.
(Đạo sinh [vạn vật], Đức dưỡng [vạn vật]).